Disposable income -Thu nhập khả dụng, còn được gọi là thu nhập cá nhân khả dụng (DPI), là phần thu nhập quốc dân còn lại mà một cá nhân hoặc hộ gia đình chi tiêu hoặc tiết kiệm sau khi thuế thu nhập đã được khấu trừ.
Disposable income là gì?
Disposable income -Thu nhập khả dụng, còn được gọi là thu nhập cá nhân khả dụng (DPI), là phần thu nhập quốc dân còn lại mà một cá nhân hoặc hộ gia đình chi tiêu hoặc tiết kiệm sau khi thuế thu nhập đã được khấu trừ.
Thu nhập khả dụng còn có thể được gọi là thu nhập ròng (Net income)
Ở cấp độ vĩ mô, thu nhập cá nhân khả dụng được giám sát chặt chẽ như một trong những chỉ số kinh tế quan trọng được sử dụng để đánh giá tình trạng chung của nền kinh tế.
Trong thực tế để dự đoán khả năng tiêu và tích lũy của dân cư, Nhà nước phải dựa vào các chỉ tiêu trực tiếp hơn, tác động đến tiêu dùng và tích lũy. Đó là thu nhập có thể sử dụng.
Cách tính thu nhập khả dụng
- Thu nhập quốc dân
Thu nhập quốc dân ròng cũng có thể tính bằng cách lấy tổng sản phẩm quốc dân trừ đi khấu hao và thuế gián thu.
Y= GNP – Khấu hao (Dp) – Thuế gián thu (Te)
Hay Y = NNP – Thuế gián thu (Te)
Trong đó:
– Y là thu nhập quốc dân ròng
– NNP là tổng sản phẩm ròng quốc dân
– Thuế gián thu: Thông thường đây được coi là những loại thuế đánh vào sản xuất kinh doanh hàng hóa và dịch vụ và do vậy, việc trả thuế chỉ là gián tiếp (người nộp thuế không phải là người chịu thuế mà thực chất là người tiêu dùng phải gánh chịu).
Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế hải quan và thuế giá trị gia tăng là các ví dụ về thuế gián thu. Sự phân biệt giữa thuế trực thu và thuế gián thu là một sự phân biệt truyền thống trong tài chính công cộng.
Tuy nhiên, sự phân biệt này không phải là một sự phân biệt hoàn toàn chặt chẽ, đồng thời cũng không phải là đặc biệt bổ ích theo quan điểm phân tích.
Có một số ví dụ về thuế mà sự phân loại là không dễ dàng và sự phân biệt giữa chúng không phải là rất có ích theo quan điểm phân tích phạm vi ảnh hưởng.
– Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu đánh vào phần thu nhập sau khi trừ các chi phí liên quan đến thu nhập của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.
- Thu nhập có thể sử dụng
Thuế trực thu chủ yếu là các loại thuế đánh vào thu nhập do lao động; thu nhập do thừa kế tài sản của cha ông để lại, các loại đóng góp của cá nhân như bảo hiểm xã hội, lệ phí giao thông,…
Thu nhập của các hộ gia đình kinh doanh cá thể hay chung vốn cũng là một dạng thuế trực thu và phải trừ ra từ thu nhập quốc dân.
Tương tự các loại thuế lợi tức đánh vào các công ty cổ phần (công ty do nhiều người sở hữu) và phần lợi nhuận không chia của các công ty để lại để tích lũy tái sản xuất mở rộng, cũng không nằm trong thành phần của thu nhập có thể sử dụng (Yd).
Toàn bộ thu nhập có thể sử dụng (Yd) chỉ bao gồm thu nhập mà các hộ gia đình có thể tiêu dùng (C), và để dành hay tiết kiệm (S).
Ta có: Yd = C + S
Disposable income ảnh hưởng như thế nào đối với tài chính cá nhân ?
Một số biện pháp thống kê và chỉ tiêu kinh tế dựa trên thu nhập khả dụng. Ví dụ, các nhà kinh tế học sử dụng thu nhập khả dụng làm điểm khởi đầu để tính toán các số liệu như thu nhập tùy ý, tỷ lệ tiết kiệm cá nhân, xu hướng tiêu dùng cận biên (MPC) và xu hướng tiết kiệm cận biên (MPS).
- Thu nhập tùy ý (Discretionary income) là thu nhập khả dụng trừ đi tất cả các khoản thanh toán cho các nhu cầu cần thiết bao gồm tiền thế chấp hoặc tiền thuê nhà, bảo hiểm y tế, thực phẩm và phương tiện đi lại. Phần thu nhập khả dụng này có thể được chi tiêu tùy ý. Thu nhập tùy ý là thu nhập đầu tiên giảm sau khi mất việc làm hoặc giảm lương. Các doanh nghiệp bán hàng hóa tùy ý, như đồ trang sức hoặc gói kỳ nghỉ, có xu hướng bị ảnh hưởng nhiều nhất trong thời kỳ suy thoái. Doanh số bán hàng của họ được các nhà kinh tế theo dõi chặt chẽ để tìm các dấu hiệu của cả suy thoái và phục hồi.
- Tỷ lệ tiết kiệm cá nhân (Personal savings) là tỷ lệ phần trăm thu nhập khả dụng được chuyển vào tiết kiệm để nghỉ hưu hoặc bất kỳ mục tiêu nào khác.
- Xu hướng tiêu dùng cận biên (Marginal propensity to consume) là tỷ lệ phần trăm của thu nhập khả dụng được chi tiêu ngay lập tức
- Xu hướng tiết kiệm cận biên (Marginal propensity to save), trong khi xu hướng tiết kiệm cận biên là tỷ lệ phần trăm tiết kiệm được.
Khi sử dụng lương thực thực phẩm, quần áo hoặc đi xem phim chúng ta đã tiêu dùng sản phẩm của nền kinh tế.Tiết kiệm là phần còn lại của thu nhập khả dụng sau khi trừ đi tiêu dùng. Do đó, thu nhập khả dụng Yd tăng thì tiêu dùng (C) tăng và tiết kiệm (S) tăng. Ngoài ra, khi thu nhập dự đoán tăng thì chi tiêu cũng tăng.
Trong khi đó, lãi suất lại có xu hướng biến động ngược chiều với tiêu dùng. Lãi suất cao thì chi tiêu tiêu dùng giảm. Bởi vì, lãi suất cao sẽ không khuyến khích chi tiêu tiêu dùng của hộ gia đình đặc biệt là các khoản chi tiêu trả góp, trái lại nó khuyến khích tiết kiệm. Ngược lại, với mức lãi suất thấp hơn thì các hộ gia đình có khuynh hướng chi tiêu nhiều hơn.


