Chính sách thắt chặt tiền tệ thường xảy ra khi ngân hàng trung ương muốn kiểm soát lạm phát.
Định nghĩa và ví dụ về chính sách thắt chặt tiền tệ
Chính sách thắt chặt tiền tệ thường xảy ra khi ngân hàng trung ương muốn kiểm soát lạm phát. Nếu người tiêu dùng và doanh nghiệp chi tiêu và đi vay quá nhiều, nền kinh tế có thể trở nên quá nóng và điều đó có thể làm tăng đáng kể mức giá của hàng hóa và dịch vụ.
Lạm phát là sự gia tăng mức giá của các mặt hàng, chẳng hạn như hàng tạp hóa hoặc quần áo, theo thời gian. Để giảm thiểu hoặc làm chậm lạm phát, ngân hàng trung ương có thể khiến người tiêu dùng chi tiền và các doanh nghiệp vay tiền đắt hơn bằng cách tăng lãi suất. Đây là một dạng của chính sách tiền tệ mang tính điều chỉnh nó hạn chế, hoặc hợp đồng, chi tiêu.
Mỗi ngân hàng trung ương có các công cụ tiền tệ mà nó có thể sử dụng để tác động đến lạm phát và cung tiền. Ví dụ, ngân hàng trung ương của Hoa Kỳ, Cục Dự trữ Liên bang, có ba công cụ tiền tệ chính: hoạt động thị trường mở, lãi suất chiết khấu và các yêu cầu về dự trữ. Các ngân hàng trung ương khác sử dụng các công cụ tương tự. Ví dụ: Ngân hàng Trung ương Anh sử dụng tỷ giá ngân hàng – tương tự như lãi suất chiết khấu của Cục Dự trữ Liên bang – và mua tài sản làm công cụ tiền tệ chính của nó.
Chính sách thắt chặt tiền tệ hoạt động như thế nào?
Tại Mỹ, các thay đổi đối với chính sách tiền tệ diễn ra tại các cuộc họp của Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC).
Nếu Fed muốn tăng lãi suất quỹ liên bang để “thắt chặt” hoặc “hạn chế” nguồn cung tiền, nó có thể bán trái phiếu cho các ngân hàng. Khi điều này xảy ra, các ngân hàng sẽ có ít tiền hơn để cho vay, điều này làm tăng sự cạnh tranh để vay vốn. Nó cũng có thể làm tăng tỷ lệ quỹ liên bang. Khi lãi suất tài trợ liên bang thay đổi, lãi suất thị trường khác, chẳng hạn như lãi suất cơ bản, có thể ảnh hưởng đến lãi suất đối với các khoản thế chấp, cho vay và tài khoản tiết kiệm.
Khi lãi suất tăng, bạn có thể thấy mình tiêu ít tiền hơn, và các doanh nghiệp có thể đầu tư hoặc vay ít hơn. Tất cả điều này có thể giúp làm chậm tăng trưởng kinh tế và lạm phát.
Khi nào thì ngân hàng trung ương sử dụng chính sách thắt chặt tiền tệ?
Fed có hai mục tiêu chính khi nói đến chính sách tiền tệ của Hoa Kỳ: việc làm tối đa và ổn định giá cả.
Khi nói đến sự ổn định giá cả, mục tiêu dài hạn đối với lạm phát trung bình và 2%. Khi triển vọng lạm phát trung bình cao hơn 2%, Cục Dự trữ Liên bang sẽ xem xét ban hành chính sách thắt chặt tiền tệ. Khi lạm phát quá cao, nó có thể dẫn đến giá cả biến động nhanh hơn tiền lương và mất sức mua đối với người tiêu dùng.
Sức mua đề cập đến hàng hóa và dịch vụ mà người tiêu dùng thường mua với một số tiền nhất định. Nếu lạm phát làm cho giá cả tăng lên, bạn có thể không mua được cùng một lượng hàng hóa và dịch vụ mà bạn đã từng mua trong quá khứ. Nếu dự kiến sẽ có lạm phát cao hơn, bạn có thể mua nhiều hàng hơn ngay bây giờ để tránh phải trả giá cao hơn sau này.
Để theo kịp loại hình gia tăng nhu cầu hàng hóa này, các doanh nghiệp sẽ cần phải tăng sản lượng và tăng giá nếu họ không thể sản xuất thêm. Điều này có thể làm tăng giá hàng hóa và gây ra lạm phát nhiều hơn. Để tránh điều này, Cục Dự trữ Liên bang ban hành chính sách thắt chặt tiền tệ.
Ngược lại, tỷ lệ lạm phát thấp hoặc giảm phát, tức là mức giá giảm, có nghĩa là giá cả trong tương lai thậm chí có thể thấp hơn hiện nay. Nếu bạn bắt đầu kỳ vọng rằng giá trong tương lai sẽ thấp hơn giá hôm nay, bạn có thể trì hoãn việc mua hàng và các doanh nghiệp sẽ trì hoãn thực hiện các dự án đầu tư mới. Điều này có thể làm chậm tăng trưởng kinh tế. Fed sau đó sẽ sử dụng chính sách nới lỏng tiền tệ. Trong trường hợp này, lãi suất sẽ giảm, do đó, các doanh nghiệp tiếp nhận các khoản đầu tư mới và bạn chi tiêu nhiều tiền hơn.
Mức độ thường xuyên Cục dự trữ Liên bang sử dụng chính sách thắt chặt tiền tệ?
Chính sách thắt chặt tiền tệ có nghĩa là “làm co lại” hoặc làm nền kinh tế chậm lại. Vì Cục Dự trữ Liên bang muốn giữ cho nền kinh tế phát triển, chính sách tiền tệ điều chỉnh đã chỉ được sử dụng một cách tiết kiệm để hạ nhiệt nền kinh tế. Tuy nhiên, nếu có mức lạm phát kỳ vọng đủ cao, Cục Dự trữ Liên bang sẽ phải hành động để chống lại những tác động tiêu cực của việc giá cả tăng nhanh.
Vào cuối năm 2021, lạm phát của Mỹ đạt mức chưa từng thấy kể từ những năm 1980. Vào tháng 12 năm 2021, lạm phát là 7%. Hãy nhớ rằng – Fed đặt mục tiêu tỷ lệ lạm phát là 2%, vì vậy 7% cao hơn nhiều so với mục tiêu của nó. Đến tháng 3 năm 2022, lạm phát là 8,5%. Do lạm phát cao đó, FOMC đã thông báo tại cuộc họp tháng 3 năm 2022 rằng họ sẽ tăng lãi suất huy động mục tiêu thêm 25 điểm cơ bản, từ 0,25% đến 0,50%. Đây là lần đầu tiên Fed tăng lãi suất kể từ năm 2018.
Đây là một ví dụ điển hình về cách Fed sử dụng các công cụ của mình thông qua chính sách thắt chặt tiền tệ để nâng lãi suất quỹ liên bang với hy vọng hạ nhiệt lạm phát.
The Balance


